Cây lúa cần ít nước vào giai đoạn lúa chín. Giai đoạn lúa đứng cái làm đòng đến trỗ, chín sữa: Thông thường lúa đứng cái làm đòng ở giai đoạn khoảng 40 đến 45 ngày, đối với giống ngắn ngày; 50 đến 55 ngày, đối với giống trung ngày.

Trắc nghiệm: Cây lúa cần ít nước vào giai đoạn nào?

A. Mới cấy

B. Đẻ nhánh

C. Làm đòng

D. Chín

Trả lời:

Đáp án đúng: D. Chín

Cây lúa cần ít nước vào giai đoạn lúa chín.

Giải thích của giáo viên HOCBAI 247 vì sao chọn đáp án D

Cây lúa cần ít nước vào giai đoạn lúa chín. Giai đoạn lúa đứng cái làm đòng đến trỗ, chín sữa: Thông thường lúa đứng cái làm đòng ở giai đoạn khoảng 40 đến 45 ngày, đối với giống ngắn ngày; 50 đến 55 ngày, đối với giống trung ngày. Trong giai đoạn này cây cần ít nước để nó thời gian chín vụ.

Kiến thức vận dụng để trả lời câu hỏi

Ở mỗi nơi lại có mỗi giống lúa trồng khác nhau tùy theo địa hình và khí hậu thời tiết. Nhìn chung các loại lúa đều có cùng đặc điểm về thời kỳ sinh trưởng, chiều cao. Quá trình phát triển của cây lúa được chia thành 3 thời kỳ sinh trưởng và 10 giai đoạn phát triển.

Cây lúa cần ít nước vào giai đoạn nào?

1. Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng

Nếu tính theo thời gian sinh trưởng thì Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa bao gồm từ giai đoạn: hạt nảy mầm, đẻ nhánh, phát triển lóng thân (cây lúa đẻ nhánh tới số nhánh tối đa). Kết thúc thời kỳ này, cây lúa sẽ bước vào giai đoạn phân hoá hoa (giai đoạn đầu tiên của Thời kỳ sinh trưởng sinh thực.

Trong thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng thì số dảnh và diện tích lá được tăng lên một cách tối đa và kết thúc ở cuối thời kỳ. Các yếu tố nhiệt độ cũng như quang chu kỳ đều ảnh hưởng rất lớn đến thời kỳ này. Đồng thời các yếu tố trên có thể làm tăng, hoặc giảm thời gian của thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng. Các giống có thời gian sinh trưởng khác nhau thì thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng cũng có thời gian khác nhau, các giống càng dài ngày thì thời gian sinh trưởng sinh dưỡng càng dài. Ngoài ra, kỹ thuật chăm sóc, bón phân… cũng ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa.

a. Giai đoạn mạ

Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng của cây mạ có thể chia ra thời kỳ mạ ra 2 thời kỳ nhỏ: Thời kỳ mạ non và thời kỳ mạ khỏe.

– Thời kỳ mạ non được tính từ lúc gieo đến khi ra được 3 lá thật. Thời klỳ này khả năng chống chịu của cây mạ kém.

– Thời kỳ mạ khỏe tính từ cây mạ có 4 lá thật cho đến khi nhổ cây. Cây ạm chuyển sang thời kỳ sống tự lập. Thời kỳ này chiều cao cây mạ tăng rõ rệt, có thể ra 4-5 lứa rễ. do vậy khả năng chống chịu cũng tăng lên rõ rệt. Tùy thuộc vào giống, mùa vụ, phương pháp, kỹ thuật làm mạ,… Mà thời kỳ mạ dài hay ngắn .Thời kỳ mạ có ý nghĩa đáng kể trong toàn bộ quá trình sinh trưởng của cây lúa. Nếu tạo được mạ tốt, mạ khỏe là một cơ sở tốt trong quá trình đẻ nhánh và các giai đoạn sinh trưởng tiếp theo diễn ra một cách thuận lợi.

– Một trong những giai đoạn lúa cần nhiều nước để sống và phát triển

b. Giai đoạn đẻ nhánh

Ở thời kỳ đẻ nhánh, cây lúa sinh trưởng nhanh và mạnh. Thời kỳ này cây lúa tập trung vào các quá trình phát triển của bộ rễ, ra lá và đẻ nhánh. Thời kỳ đẻ nhánh là thời kỳ quyết định đến sự phát triển diện tích lá và số bông, do đó cần chú ý đến các biện pháp kỹ thuật nhằm làm tăng diện tích lá để tăng khả năng quang hợp và tăng số bông hữu hiệu là yếu tố quan trọng để tăng năng suất lúa.

2. Thời kỳ sinh trưởng sinh thực của lúa

– Thời gian ổn định, khoảng trong từ 27 – 35 ngày.

– Từ làm đòng đến thụ tinh.

a. Giai đoạn phân hóa hoa (Làm đòng)

Giai đoạn phân hóa hoa và hình thành cơ quan sinh sản (Còn gọi là quá trình làm đòng) là quá trình phân gié, hình thành nhị và nhụy lúa.

Đây cũng là giai đoạn lúa cần nhiều nước để tạo hạt.

b. Giai đoạn trỗ bông

Khi đòng đã hoàn chỉnh cây lúa bắt đầu trỗ. Toàn bộ bông lúa thoát ra khỏi bẹ lá đòng là quá trình trỗ xong với thời gian 4-6 ngày. Thời gian trỗ càng ngắn càng có khả năng tránh được các điều kiện thời tiết bất thuận. Cùng với quá trình trỗ bông, có giống vừa nở hoa vừa thụ phấn ngay, nhưng cũng có giống phải chờ trỗ xong mới tiến hành nở hoa thụ phấn.

c. Giai đoạn nở hoa, thụ phấn, thụ tinh

Lúa là loại cây tự thụ phấn. Sau khi bông lúa trỗ một ngày thì bắt đầu quá trình thụ phấn. Vỏ trấu vừa hé mở từ 0-4 phút thì bao phấn vỡ ra, hạt phấn rơi vào đầu nhuỵ  và hợp nhất với noãn ở bên trong bầu nhuỵ để bầu nhuỵ phát triển thành hạt.

Thời gian thụ phấn kể từ khi vỏ trấu mở ra đến khi khép lại kéo dàI khoảng 50-60 phút. Thời gian thụ tinh kéo dài 8 giờ sau thụ phấn.

Trong ngày thời gian hoa lúa nở rộ thường vào 8-9 giờ sáng khi có điều kiện nhiệt độ thích hợp, đủ ánh sáng, quang mây, gió nhẹ. Những ngày mùa hè, trời nắng to có thể nở hoa sớm vào 7 –  8 gờ sáng. Ngược lại nếu trời âm u, thiếu ánh sáng hoặc gặp rét hoa phơi màu muộn hơn, vào 12 – 14 giờ.

Sau thụ tinh phôi nhũ phát triển nhanh để thành hạt. Khối lượng hạt gạo tăng nhanh trong vòng 15- 20 ngày sau trỗ, đồng thời với quá trình vận chuyển và tích luỹ vật chất, hạt lúa vào chắc và chín dần

3. Thời kỳ chín của lúa

– Thời gian ổn định, khoảng 30 ngày.

– Sau khi thụ tinh đến chín.

a. Giai đoạn chín sữa

Giai đoạn chín sữa bắt đầu sau khi phơi màu từ 5-7 ngày, chất dự trữ trong hạt lúa ở dạng lỏng và trắng như sữa; hình dạng hạt đã hoàn thành, lưng hạt có màu xanh; trọng lượng hạt trong thời kỳ này tăng rất nhanh, có thể đạt 75-80% trọng lượng cuối cùng của hạt thóc.

b. Giai đoạn chín sáp

Là giai đoạn mà chất dịch trong hạt lúa dần dần đặc lại, khiến cho hạt lúa cứng, màu xanh ở lưng hạt dần chuyển thành màu vàng và giai đoạn này trọng lượng hạt thóc tiếp tục tăng lên.

c. Giai đoạn chín hoàn toàn

Giai đoạn chín hoàn toàn khi ta nhận thấy vỏ trấu từ màu vàng chuyển sang vàng nhạt và hạt thóc chắc cứng, cũng là lúc hạt thóc đạt trọng lượng tối đa. Lúc này có thể bắt đầu tiến hành thu hoạch lúa

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.